Ý nghĩa nhân bản của ngày lễ Vu LanXem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Sat Aug 13, 2011 8:21 pm
Sóng bằng trái tim, tầm hồn

[Thành viên] - harrypoter93
Những người bạn tốt
Những người bạn tốt
Nam Birthday Birthday : 29/12/1993
Được cảm ơn Được cảm ơn : 12
Tổng bài gửi Tổng bài gửi : 271
Age Age : 22
Châm ngôn sống : Sóng bằng trái tim, tầm hồn
Trường bạn đang họcthpt lac thuy a
VNĐ : 365
Trình duyệt web : Firefox

Bài gửiTiêu đề: Ý nghĩa nhân bản của ngày lễ Vu Lan
Xem lý lịch thành viên

Tiêu Đề : Ý nghĩa nhân bản của ngày lễ Vu Lan

1. Nguồn gốc của lễ Vu Lan.
Vu Lan hay Vu Lan bồn có nguồn gốc từ chữ phạn Ullambana, dịch sang
tiếng Hán ngữ là Giải đảo huyền, tức là gỡ khỏi nạn treo ngược–theo
nghĩa tiếng Việt. Mà hiểu rộng ra là nhờ vào sự thành tâm chú nguyện của
Thập phương chư Tăng mà chúng ta có thể cứu được cha mẹ, tổ tiên thoát
khỏi cảnh tội đồ, cầu nguyện cho chúng sinh được siêu thoát, khỏi vòng
sinh tử luân hồi.

Theo Phật thoại: Tôn giả Mục Kiền Liên là một trong số ít đệ tử xuất
chúng của Ðức Phật. Ngài có quyền pháp vô biên, nhưng không vì thế mà
Ngài quên đi nghĩa vụ của một người con đối với cha mẹ. Một lần, dùng
tuệ nhãn quan sát khắp “bốn phương tám hướng” Tôn giả Mục Kiền Liên thấy
mẹ mình (là bà Thanh Ðề) đang chịu cảnh tội đồ trong ngục A tỳ, thân
thể gầy héo, xanh xao, chỉ còn da bọc xương, khổ đau khôn xiết. Dù biết
đó là do kết quả của thói tham lam, độc ác, sự dối trá từ thuở sinh thời
mẹ đã gây nên, nhưng Ngài vẫn không khỏi thương xót. Dùng pháp thuật
của mình, Tôn giả Mục Kiền Liên mang cơm dâng lên mẹ. Nhưng, do nghiệp
quá lớn nên bát cơm bà Thanh Ðề cầm trên tay bỗng hoá thành than đỏ.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, Ngài rất đau lòng, về bạch lại với Phật, mong
Ðức Phật cứu vớt để linh hồn mẹ mình được siêu thoát. Cảm động trước tấm
lòng hiếu nghĩa của Tôn giả Mục Kiền Liên, Ðức Phật đã chỉ cách để Ngài
có thể cứu vớt được mẹ ra khỏi cảnh đoạ đầy. Ðức Phật nói: “Ông tuy
quyền phép vô biên, lại hiếu thảo hơn người, tấm lòng của ông làm cảm
động cả trời đất nhưng tội ác của mẹ ông quá nặng, một mình ông không
thể cứu được mẹ. Ðến ngày rằm tháng bẩy, Chư Phật hoan hỉ, Chư Tăng tự
tứ, hãy sửa soạn lễ vật cúng Dàng, thành tâm thỉnh cầu Chư Tăng chú
nguyện thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.

Theo lời Phật dạy, nhằm ngày Rằm tháng Bảy, Tôn giả Mục Kiền Liên lập
bồn Vu Lan (chậu đựng đồ lễ cúng dàng), thỉnh mời Chư Tăng đến chú
nguyện. Nhờ đó bà Thanh Ðề mới được siêu thoát. Các vong linh khác cũng
nhờ phúc lành của Chư Tăng mà được siêu thoát. Noi gương hiếu đễ của Tôn
giả Mục Kiền Liên, hàng năm, cứ đến ngày Rằm tháng Bảy các tín đồ, Phật
tử khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan với tín tâm cầu cha
mẹ, ông bà, tổ tiên mình sẽ được thoát khỏi tội đồ.


2.Ý nghĩa giáo dục
Ngày lễ Vu Lan là dịp “nhắc nhở” các thế hệ con cháu chúng ta nhớ tới
công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những
đóng góp to lớn của các anh hùng dân tộc, những người có công với đất
nước. Ðồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy
nhân bản của văn hoá Phật giáo đó là “Từ, bi, hỷ, xả”, “vô ngã, vị tha”,
“uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”...
Không riêng gì với mỗi Phật tử chúng ta, lễ Vu Lan mở ra cả một mùa báo
ân, báo hiếu. Báo hiếu ở đây là báo hiếu đối với cha mẹ, không chỉ ở
kiếp này mà còn ở nhiều kiếp khác, bởi Phật giáo luôn nhìn nhận con
người trong mối tương quan nhân quả, trong vòng nghiệp háo luân hồi. Và
cũng chính vì nhìn nhận dưới góc độ đó mà hết thảy mọi chúng sinh trong
xã hội đều có mối quan hệ với nhau. Ðiều này dẫn đến việc chúng ta phải
mở rộng phạm vi báo hiếu ra tất cả chúng sinh. “Phổ độ chúng sinh”, “cứu
nhân, độ thế”, “xá tội vong nhân” nhờ vậy mà được hình thành. Mà như
tác giả Vi Phương Anh đã nhận định thì: “... người Việt cử hành lễ Vu
Lan nhằm giải tội cho người chết, cầu phúc cho người sống. Ðiều đặc biệt
đáng chú ý là ngoài việc cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ
cầu siêu cho các cô hồn, u hồn của người khi tại thế đã thất cơ lỡ vận,
phiêu bạt bơ vơ, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã
hội... bằng việc đọc bài văn tế cô hồn trong khi hành lễ. Vậy là tục
cúng các cô hồn của người Việt đã giao hoà với tinh thần cứu khổ cứu
nạn, cứu nhân, độ thế của nhà Phật làm cho lễ Vu Lan thêm phần phong phú
và sống động”(1). Thật đúng là:

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tịnh bình rưới hạt dương chi
Muốn nhờ Đức Phật từ bi
Giải oan cứu độ, hồn về Tây phương.


Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Ðàn chẩn tế đây lời Phật giáo
Của có chi bát cháo nén hương
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên (2)
Báo hiếu là sự biểu hiện phẩm hạnh dạo đức của mỗi con người chúng ta.
Trong xã hội, luôn luôn tồn tại hai hoạt động mang ý nghĩa dường như
trái ngược nhau song lại gắn bó chạt chẽ với nhau đó là làm ơn (ân) và
trả (báo) ơn (ân). Người xưa đã đạy: “Có hai điều dứt khoát phải làm,
một là phải quên đi khi mình giúp đỡ người khác, hai là phải ghi nhớ,
phải trả ơn khi người khác giúp mình”. Hành động làm ơn và trả ơn là
không thể thiếu được trong bất cứ xã hội nào bởi trong cuộc sống con
người đâu có tồn tại một cách độc lập, mà họ luôn tồn tại trong mối
tương quan, trong sự gắn kết giữa các cá nhân với các chủ thể khác. Mác
từng nói: “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, do đó, con
người nếu đã hiếu nghĩa với cha mẹ, họ hàng thì không thể không yêu quý
quốc gia; thầy cô, bè bạn; và mở rộng ra là với toàn thể chúng sinh,
đồng bào. Cùng với báo ân cha mẹ, ba điều này hợp thành khái niệm: “Tứ
ân” trong Phật giáo. Ðó chính là:
–Ơn cha mẹ: là ơn sinh thành dưỡng dục.
–Ơn thầy cô: là ơn dạy dỗ những kiến thức, những điều hay, lẽ phải.
–Ơn quốc gia xã hội: là ơn đảm bảo, giữ gìn môi trường sống hoà bình, ổn định.
–Ơn chúng sinh, đồng bào: là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất để cho chúng ta tồn tại, phát triển.

Không ai có thể nói rằng trong bốn ân này, anh ta chỉ chịu ân này còn ân
khác thì không. Như trên đã trình bày, con người luôn tồn tại trong mối
tương quan với các cá nhân khác, là tổng hoà của nhiều mối quan hệ nên
nhất thiết phải chịu cả bốn ân này. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài
viết ngắn, không cho phép có thể đi vào phân tích cả bốn ân này, nên,
người viết chỉ tập trung vào chữ hiếu trong trường hợp đầu tức là hiếu
với cha mẹ, ba trường hợp còn lại sẽ đề cập tới khi có điều kiện.

Ðạo Phật là đạo hiếu, lấy tình thương yêu con người (và cả muôn loài)
làm đầu. Tình thương này bắt nguồn từ tình thương cha mẹ, sau đó mới mở
rộng ra thành tình người, tình nhân loại. Chính vì vậy, trong các kinh
điển của mình Ðức Phật dạy về đạo hiếu nhiều không kể xiết. Nào đời nay
đã có hiếu. Nào kiếp trước cũng đã có hiếu. Nào hiếu về cung dưỡng cha
mẹ. Nào hiếu về độ siêu cho cha mẹ.... Do đó, muốn tu theo Phật giáo
phải lấy chữ hiếu làm đầu bởi vì kinh Phật đã dạy: “Phụng thờ cha mẹ là
phụng thờ Ðức Phật”. Cụ thể hơn, Ðức Di Lặc đã có bài kệ rằng:
Trên nhà có hai pho tượng Phật
Thương cho người đời không biết mà.
Tượng ấy chẳng dùng vàng son phủ
Cũng chẳng phải gỗ mít tạc ra.
Tượng ấy chính là cha với mẹ
Chính là Di Lặc và Thích Ca
Nếu cúng dàng được hai tượng ấy
Còn phải cầu công đức đâu xa (3)

Và vì cha mẹ là người sinh ra ta, nuôi nấng dạy dỗ chúng ta từ thuở ấu
thơ cho đến khi về già. Công lao đó của cha mẹ thật bao la, tựa non, tựa
bể. Chính vì vậy, để phần nào đền đáp lại cái ơn nghĩa đó, chúng ta
“Một lòng thờ mẹ, kính cha; Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Ở đây sở
dĩ nói phần nào bởi vì theo kinh Phật: “Trên thế gian này, công ơn cha
mẹ là điều to lớn nhất”(4). Chính Đức Phật đã từng nhiều lần dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai người mà ta không thể trả ơn đó là chính là cha và mẹ”(5).
Với ơn nghĩa sinh thành ấy, chúng ta dù có “trăm nghìn muôn kiếp tán
xương róc thịt ra để phụng dưỡng cha mẹ cũng vẫn chưa đền đáp được”(6).

Sự hiếu nghĩa của con cái đối với cha mẹ không chỉ được thể hiện trong
sự cung phụng về vật chất mà còn trong lĩnh vực tinh thần. Cha mẹ cần
tình cảm và sự chăm sóc của con cái: “Trẻ cậy cha, già cậy con”. Vì thế,
bên cạnh việc lo chu đáo “miếng cơm, manh áo” cho cha mẹ, chúng ta cần
phải “sớm viếng, tối thăm”, trò chuyện, vấn an cha mẹ để cha mẹ thật sự
vui vẻ an hưởng tuổi già. Nhất là khi cha mẹ đau yếu, phải “rước thầy,
đổi thuốc: hết lòng chăm sóc từ miếng ăn, nước uống, trên sắc mặt lúc
nào cũng vui tươi, cầu cho bệnh chóng khỏi. Bổn phận làm con, làm được
như thế, gọi là báo hiếu trong muôn một”(7). Cùng một quan
điểm như vậy, từ hơn 2500 năm truớc Ðức Khổng Tử cũng đã từng dạy: “Ðời
nay thấy ai nuôi dưỡng được cha mẹ thì khen là có hiếu. Nhưng chó, ngựa
cũng được nuôi dưỡng. Vì thế nếu nuôi cha mẹ mà không kính trọng thì
khác gì nuôi thú vật”(8). Hoặc như kinh Lễ cũng có đoạn viết:
“Khi cha mẹ còn sống mà chỉ chăm chú vào việc làm giàu, không phụng
dưỡng cha mẹ là không tròn đạo hiếư”. Ðức Khổng Tử còn dạy tiếp: “Có
việc thì mình giúp, có rượu, thức ăn ngon mời cha mẹ là hiếu chăng? Giữ
được sắc mặt vui vẻ khi ở chung với cha mẹ mới thật khó”(9).

Tuy nhiên, cũng đừng vì đặt quá chữ hiếu lên đầu mà chúng ta làm những
điều “bất nhân, thất đức” hay hùa theo cha mẹ làm những điều ác, điều
xấu để làm hại người khác. Hiếu như thế là “ngu hiếu”. Mà phải “Phát tâm
học Phật, tu Phật rồi khuyên cha mẹ biết ăn chay niệm Phật, làm các
phúc thiện thì mới có thể báo đền cân xứng với công sinh nuôi của cha mẹ
như lời Phật đã dạy”(10). Bên cạnh đó, cũng phải sáng suốt
để vừa hiếu thuận với cha mẹ lại vừa “lợi lạc, quần sinh”, vừa kế thừa
và phát huy được những đức tính tốt của cha mẹ lại vừa biết khuyên can
cha mẹ rời xa những điều không tốt(11), ấy mới là “chân hiếu”(12), là “trí hiếu”(13), là hiếu đễ thực sự như mọi người hằng ngưỡng mộ...

Tiếc thay, trong xã hội chúng ta hiện nay do những ảnh hưởng tiêu cực
của nền kinh tế thị trường ít nhiều đã xuất hiện lối sống thực dụng,
chạy theo lợi ích vật chất tầm thường mà quên đi những giá trị truyền
thống của bản sắc văn hoá dân tộc, quên đi những nghĩa vụ thiêng liêng
của con cái đối với cha mẹ. Phải thừa nhận rằng, thực tế vẫn còn có
không ít những quan niệm về đạo hiếu thật đơn giản và lệch lạc. Do đó,
khi vận dụng vào cuộc sống đã không mang đầy đủ ý nghĩa đích thực của
nó, biến đạo hiếu trở thành một thứ hình thức, câu nệ tầm thường, dẫn
đến việc thực hành đạo hiếu chỉ còn là trách nhiệm, là nghĩa vụ mà không
xuất phát lừ đáy lòng, từ trong tâm. Hoặc nếu không gượng ép thì cũng
là thỉnh thoảng, không thường xuyên, mà nhiều khi còn mang tính thời
điểm, cơ hội, sử dụng cha mẹ như những “công cụ” để mang lại lợi ích cho
bản thân. Thật xót xa khi xã hội còn có những đứa con bất hiếu, những
“nghịch tử” đang hàng ngày, hàng giờ ruồng rẫy cha mẹ, coi cha mẹ như
gánh nặng bên mình. Ấy vậy mà khi cha mẹ chết đi thì lại tổ chức ma chay
linh đình những để người ngoài trông vào mà nghĩ đó là những đứa con
“hiếu để”. Những “tấm gương” tày liếp đó, thiết nghĩ báo chí đã tốn
không biết bao nhiêu giấy mực để lên án. Nhưng, dù có viết bao nhiêu đi
chăng nữa cũng vẫn là chưa đủ nếu như chúng ta chưa hình thành đủ các
chuẩn mực đạo đức cần thiết để có thể điều chỉnh được những hành vi “phi
nhân tính” đó. Hay như bản thân mỗi con người không tự tu dưỡng, rèn
luyện nhân cách, đạo đức để có thể có một cuộc sống lành mạnh, có ích,
dời xa những cám dỗ của dục vọng...

Ðức Phật cũng chính là một tấm gương sáng về đạo hiếu. “Ðạo hiếu này tức
như Ðức Thích Ca để phụ vương ở lại mà trốn vào rừng đi tu. Nhưng Ngài
cố tu học cho đến thành Phật. Ðến nay người ta sùng bái Ngài mà sùng bái
đến cả Tịnh Phạn vương. Ngôi vua nào tôn vinh, tràng viễn bằng”(14).
Hay như khi Tịnh Phạn đại vương lâm chung. Ngài đã đứng ra lo liệu mọi
việc, quỳ lạy trước vong linh cha rồi cung kính nghinh tiễn kim quan cha
về nơi “an nghỉ cuối cùng” cho trọn đạo làm con(15). Như
vậy, đã là tạo hiếu thì các đấng toàn năng, các bậc thánh hiền, hay
người phàm trần cũng đều như nhau. Và dù có là Ðấng Giác Ngộ cao minh
với quyền pháp vô biên hay một người dân bình thường nhất, thì với cha
mẹ con cái bao giờ cũng vẫn là con cái, vì vậy, lo lắng hậu sự cho cha
mẹ phải chăng là điều không cần phải bàn cãi gì thêm nhiều nữa.

Bấy nhiêu chưa đủ để nói lên tất cả những điều muốn nói của bản thân
người viết cũng như của toàn xã hội, song, từ sự phân tích trên chúng ta
cũng đã phần nào thấy được những ý nghĩa giáo dục cao cả của văn hoá
Phật giáo trong tiến trình hình thành và phát triển bản sắc văn hoá dân
tộc Việt Nam. Nhân mùa báo hiếu chúng ta cũng nhận thức lại những ý
nghĩa đúng đắn của ngày lễ Vu Lan để có những hành động thiết thực hơn,
tích cực hơn cho gia đình và cho xã hội. Có làm được như vậy thì mới có
thể tự giải thoát được cho mình để rồi giải thoát cho người khác.

Phát huy truyền thống nhập thế của Phật giáo Việt Nam, chúng ta nguyện
tu tập theo gương hiếu đễ của người xưa để góp phần xây dựng một xã hội
tốt lành, thực hiện “tốt đời, đẹp đạo”.

Xin được thay cho lời kết, bằng việc mượn lời của Ni sư Thích Ðàm Hà trong bài “Cảm nghĩ về chữ Hiếu trong đạo Phật”(16)
Thân người gốc ở mẹ cha
Trải bao cay đắng cũng là vì con
Công ơn như biển, như non
Ðạo làm con phải lo tròn hiếu tâm
Báo đền trả nghĩa ân thâm
Những điều hiếu nghĩa trọng tâm nghĩ bàn
Người ta sống ở thế gian
Bao nhiêu hưởng thụ bấy nhiêu ơn nhờ
Ơn dân, ơn nước, ơn người,
Ơn thày, ơn bạn, ơn đời giúp ta./.




Ý nghĩa nhân bản của ngày lễ Vu Lan

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
* Viết tiếng Việt có dấu, là tôn trọng người đọc.
* Chia sẻ bài sưu tầm có ghi rõ nguồn, là tôn trọng người viết.
* Thực hiện những điều trên, là tôn trọng chính mình.
-Nếu chèn smilies có vấn đề thì bấm A/a trên phải khung viết bài
Quyền hành của bạn
Bạn không có quyền trả lời bài viết
BB code đang Mở
Hình vui đang Mở
HTML đang mở
Diễn đàn Lạc thủy A :: Trường THPT Lạc Thủy A :: ­­Cựu học sinh-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog